A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

55 năm xa trường không xa nỗi nhớ

Nhà thơ Chế Lan Viên tài hoa đã có câu thơ xuất thần “ Khi ta ở chỉ là nơi đất ở Khi ta đi đất bỗng hoá tâm hồn”. Tâm hồn và thể xác thì nhất định phải tồn tại cùng nhau. Nhưng cái thể xác lại phải ra đi, không thể mang theo “ nơi đất ở”.

49tjf49edf:News:Id
edf40wrjww2News:ContentNew

          55 năm xa trường không xa nỗi nhớ

                                                                                   Hoàng Giá

Nhà thơ Chế Lan Viên tài hoa đã có câu thơ xuất thần “ Khi ta ở chỉ là nơi đất ở / Khi ta đi đất bỗng hoá tâm hồn”. Tâm hồn và thể xác thì nhất định phải tồn tại cùng nhau. Nhưng cái thể xác lại phải ra đi, không thể mang theo “ nơi đất ở”. Thế nên mới sinh ra nỗi nhớ. Nhớ vợ, nhớ con, nhớ cha, nhớ mẹ, nhớ bạn, nhớ bè. Nhớ những nơi nuôi mình lớn khôn và tồn tại. Nhớ những mái trường đã cho mình tình yêu và kiến thức…Cũng vì những nỗi nhớ ấy mà mà tôi đã trở về thăm trường Trung học phổ thông ( THPT) Lương Tài bên bờ nam con sông Đuống nghiêng nghiêng chảy qua miền quan họ. Đó chính là ngôi trường mà cách đây 55 năm còn gọi là trường cấp II Gia Lương, là nơi chúng tôi đã chia tay nhau để người thì lên tỉnh học hết cấp III, người sang Hưng Yên theo nghề sư phạm. Cũng có ngưopừi sớm bước vào đời, vào trong quân đội, có người về quê theo nghiệp nông.

       55 năm - một chặng đường dài, bao khúc quanh co, bao nhiêu dâu bể, mọi thứ đều đã rơi vào dĩ vãng. Thế nhưng hình ảnh ngôi trường tranh tre, nứa lá, hình ảnh thầy cô, bạn bè thuở khoai sắn cõng cơm thì chẳng thể phai mờ.

      Lứa học rò chúng tôi không phải lứa học trò đầu tiên, bởi trường cấp II Gia Lương được thành lập từ mùa thu năm 1953 giữa lúc tướng Na- Va huênh hoang ngợi ca tập đoàn cứ điểm Điện Biên bất khả chiến bại. Mãi đến niên khoá 1957- 1958 niên khoá thứ 5, cũng là niên khoá kết thúc 5 lần chuyển địa điểm đầy gian lao, khó nhọc chúng tôi mới có mặt. Lúc đó thầy Trương Đăng Nhượng, rồi thầy Lại Hoàng Tràng làm Hiệu trưởng. Chủ nhiệm lớp tôi là thầy Hoàng Ngọc Kỷ đẹp như một nam hậu, yêu chúng tôi như những đứa em ngốc nghếch mà thông minh, nghịch ngợm mà phép tắc. Ngày ấy chúng tôi đã được học nhạc. Thầy vừa là chủ nhiệm, vừa dạy văn, lại kiêm dạy nhạc. Thầy hát hay, đàn giỏi. Khi hát thầy là nghệ sĩ, là niềm tự hào của cả trường, nhất là của lớp chúng tôi. Khi thầy chuyển công tác về Hải Phòng – thành phố quê hương thì thầy Lê Quang Điều người khu bốn, có giọng đọc hay như những buổi tiếng thơ trên đài về dạy thay. Thầy Nguyễn Chiêu thì dạy môn Sử, luôn đưa chúng tôi trở lại thời giáo gươm cha ông dựng nước và giữ nước. Thầy Trương Đức Phong dạy Hoá Lý kỳ công diễn ca toàn bộ chương trình thành những bài thơ rất hay, rất dễ nhớ…

      Mới đấy mà đã 55 năm. Cả dân tộc đã lao qua bao nhiêu bức tường dày đặc đạn bom, băng qua đêm tối mịt mùng của đói nghèo, lạc hậu. Giờ đây… thầy nào còn, thầy nào đã mất? Lớp bạn bè chúng tôi cũng ai mất, ai còn? Ai công thành danh toại, ai trở về cầy cuốc xây dựng mái ấm gia đình?

     Theo lớp trưởng Nguyễn Nho Nùng – nguyên Giám đốc sở Giáo dục – đào tạo tỉnh Bắc Ninh thì người thành đạt nhất lớp tôi có lẽ là anh Ngô Đình Loan. Khi còn Hà Bắc anh là Chủ tịch tỉnh. Khi tách tỉnh anh về làm Bí thư tỉnh uỷ Bắc Ninh. Con cái đều đã trưởng thành. Con trai cả đã làm Bí thư huyện uỷ. Anh Nguyễn Xuân Miều say đắm Hoá Sinh trở thành cán bộ xuất sắc trong ngành dầu khí. Anh Nguyễn Phan Hách là nhà văn nổi tiếng, có bài thơ “ Làng quan họ quê tôi” mà nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo phổ nhạc được coi như bản tỉnh ca. Nguyễn Văn Chương nổi tiếng với những bài lục bát trữ tình không tuổi, những bài tản văn sâu lắng đầy xúc động. Còn nữa: Các anh Duy Khoát, Duy Phi, Hoàng Giá đều bội thu trên con đường sáng tạo. Các anh Lê Nho Thu, Nguyễn Đình Chử, Nguyễn Văn Tạc, Dương Minh Thái, Nguyễn Xuân Oánh, Trần Xuân Trịnh… đều là những người thầy mẫu mực. Các chị Nguyễn Thị Kim Thuý, Hoàng Thị Sắc, Trần Thị Hoan, Trần Thị Ánh Tuyết, Cao Thị Thanh Trà…đều đã về hưu, đã là những bà nội, bà ngoại, là chỗ dựa cho cả gia đình…

      Đấy là những người tôi biết. Còn những anh, những chị khác thì sao? Tôi còn nhớ anh Nguyễn Văn Diếu quê quê làng Thư đôi, xã Nguyệt Đức ngay từ khi lớp sáu đã viết khá nhiều truyện ngắn, viết cả tiểu thuyết trinh thám.Khi nhập ngũ anh bảo anh sẽ là một tướng quân, vì thiên tài quân sự Na-pô-nê-ông từng nói “ Đã là một chiến binh mà không mơ cầm trên tay chiếc gậy chỉ huy của Thống chế thì chỉ là một chiến binh tồi’ mà anh không mốn mình là một “ chiến binh tồi”. Nhưng anh đã ngã xuống trước một cửa mở khi đất nước chưa quy về một mối…Không biết bao nhiêu thầy, bao nhiêu bạn có kết cục như anh Diếu? Thương quá! Đau qúa! Tiếc quá! Đó chính là nhưững nhân tài, thậm chí là những thiên tài, chỉ vì chiến tranh mà bị đốn ngang cuộc sống. Thử hỏi có tội ác nào hơn tội ác này?

     Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ và cả những cuộc chiến sau này lớp chúng tôi có lẽ chưa bao giờ vắng mặt. Tướng thì chưa có, nhưng những tấm huân chương thì lấp lánh khá nhiều trên ngực đem lại vinh quang và niềm tự hào cho gia đình, bạn bè và đồng đội…

     Tôi sinh ra và lớn lên ở làng Bút Tháp- nơi có ngôi chùa là di tích quốc gia đặc bệt. Trước năm 1957 Thuận Thành chưa có trường cấp II nên chúng tôi phải cuốc bộ hơn 20 cây số vào Gia Lương theo học. Từ quê tôi vào trường ngày xưa vừa đi vừa chạy cũng mất hơn năm tiếng đồng hồ. Nay ở tuổi ngoài thất thập tôi đi xe máy “ như đi bộ” mà cũng chỉ mất chưa đầy một tiếng, bởi tất cả đều là đường nhựa phẳng lỳ. Đoạn từ Đông Bình tới Thứa dài 5km san sát những ngôi nhà kiên cố, tạo thành một dãy phố phồn hoa.

       Chẳng cần hỏi thăm tôi đã nhìn thấy chiếc cổng ba gian đồ sộ ghi rõ “ Trường trung học phổ thông Lương Tài”. Biết mục đích của tôi, bác bảo vệ vui vẻ chỉ chỗ để xe rồi mời tôi lên phòng hiệu trưởng. Tôi nghe một giọng nữ thánh thót đọc bài thơ ca ngợi phụ nữ của Đại thi hào Maksim- Gorki mới sực nhớ hôm nay là ngày 20-10 ngày phụ nữ Việt Nam liền dừng lại nhìn trước, nhìn sau. Hoá ra tôi đã lọt vào trong lòng chữ khẩu, bị bao bọc bởi những dãy nhà hai, ba tầng liền kề, mặt tiền được căn ke thẳng tắp. Tôi lại bồi hồi nhớ về những ngôi nhà, những lớp học tranh tre, nứa lá năm xưa.

       Thầy hiệu trưởng còn rất trẻ ( Trộm vía có khi còn trẻ hơn các anh lớn tuổi lớp tôi thời ấy). Biết tôi là học sinh cũ của trường thầy vui và xúc động lắm. Thầy bảo : Bác cứ coi đây là nhà, chúng cháu là con cháu. Ấy chết. Sao lại thế? Thầy là hiệu trưởng, còn tôi chỉ là một học sinh ( dù là quá cũ). Thầy cười xoà, kể bao nhiêu chuyện về cách mà nhà nước và nhân dân cùng làm năm 2010 để có được cơ ngơi như ngày hôm nay. Chuyện 100% các thầy cô đạt chuẩn, trong số 109 giáo viên có tới 18 thạc sĩ và 4 người đang theo học cao học. Học sinh thì năm nào cũng tốt nghiệp 100%, chỉ năm vừa rồi mới trượt 2 cháu và đạt 99,7%. Bù lại tỉ lệ đỗ đại học riêng đợt I đã đạt 74,1% trong khi các năm trước chỉ xấp xỉ sáu chục phần trăm. Nhà trường cũng vinh dự được nhà nước ba lần tặng thưởng Huân chương lao động từ hạng ba tới hạng nhất. Năm học 2013-2014 có học sinh đạt giải ba trong kì thi quốc gia. Năm học 2014-2015 trường có sản phẩm sáng tạo khoa học về sinh học đạt giải khuyến khích có thể đi thẳng vào cuộc sống. tôi buột miệng hỏi “ Trong số gần hai ngàn học sinh liệu có cháu nào nghiện hút hoặc vi phạm pháp luật?” Thầy hiệu trưởng tươi cười bảo “ Đấy là điều mà Trường THPT Lương Tài tự hào nhất. Không phải chỉ niên khoá này mà từ trước đến nay chưa bao giờ có học sinh vi phạm pháp luật hoặc tệ nạn xã hội”. Tôi thở phào, cùng vui với thầy hiệu trưởng. Rồi chúng tôi quay lại chuyện những học sinh thành đạt của trường. Nào là Tiến sĩ Nguyễn Quốc Triệu người Phú Hoà niên khoá 1965-1968 làm tới chủ tịch thành phố Hà Nội. Nào là Giáo sư- Tiến sĩ Nguyễn Đình Hiện Trưởng khoa đột quỵ QYV 103. Đặc biệt là Phó Đô đốc Đinh Gia Thật- Chính uỷ quân chủng Hải quân có những tuyên bố đanh thép về chủ quyền biển đảo, về sức mạnh Hải quân nhân dân Việt Nam làm yên lòng đồng chí, đồng bào…

       Đang say sưa thì một cô gái trẻ, áo tân thời hợp mốt, khuôn mặt thông minh, xinh xắn điểm chút phấn son gõ cửa xin vào. Ngoài trời nắng thu vàng nhạt đang nhảy nhót giỡn đùa trên những lùm cây cao vút. “ Đi như lôi, ngồi như buộc”, mới vài câu chuyện mà đã sắp hết buổi sáng. Tôi vội vã xin phép thầy hiệu trưởng để đến thăm các gia đình đã cưu mang, nhường chiếu giường và những gian nhà chật hẹp cho chúng tôi ở trọ.

      Chúng tôi – hai thế hệ lưu luyến tiễn chân nhau, hẹn hò ngày gặp lại. 55 năm xa trường mà nỗi nhớ vẫn vẹn nguyên: Đúng là : 55 năm – xa trường không xa nỗi nhớ!

 

Tác giả: Tạp chí Người Kinh Bắc

Nguồn: thptluongtai.bacninh.edu.vn
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Bài tin liên quan
Tin đọc nhiều
Chính phủ điện tử
Video
Bản đồ vị trí
Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 29
Hôm qua : 79
Tháng 02 : 5.498
Tháng trước : 7.331
Năm 2020 : 12.829
Năm trước : 15.268
Tổng số : 28.097